Thuốc mỡ máu không phải loại nào cũng giống nhau. Có thuốc chuyên hạ mỡ xấu LDL-C, có thuốc chuyên hạ triglyceride, có thuốc giúp giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ, nhưng cũng có thuốc chỉ cải thiện chỉ số mà lợi ích giảm biến cố chưa thật rõ. Trong bài viết này, Dược sĩ Lan sẽ cùng cô bác hiểu đúng từng nhóm thuốc mỡ máu để dùng thuốc an toàn hơn, không tự ý ngưng thuốc, đổi thuốc hoặc phối hợp thuốc khi chưa có chỉ định.
Khi nhìn vào tờ xét nghiệm mỡ máu cô bác sẽ chú ý giúp con 3 chỉ số cốt lõi quan trọng là LDL-C (mỡ xấu), HDL-C (mỡ tốt) và Triglyceride (mỡ trung tính) là bao nhiêu đúng không ạ.
Bởi vì mỡ xấu LDL – C thì giống như người xả rác ra lòng mạch làm mạch máu dễ xơ vữa, tắc nghẽn dẫn tới nguy cơ nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Còn mỡ tốt HDL – C thì giống như người đi thu gom rác lại để đưa về gan xử lý và đào thải ra ngoài. Nếu chỉ số mỡ tốt HDL-C này cao thì lại càng đáng mừng nhưng nếu HDL mà thấp quá thì thường đi kèm nguy cơ tim mạch sẽ cao hơn.
Và Triglyceride thì giống như một kho chứa năng lượng dư thừa trong máu của chúng ta vậy. Nếu chỉ số Triglyceride tăng cao ở mức vừa phải, nó sẽ góp phần làm tăng nguy cơ xơ vữa động mạch. Nhưng nếu chỉ số Triglyceride này tăng vọt lên quá cao – đặc biệt là mức trên 1000 mg/dL (tương đương khoảng trên 11,3 mmol/L) – thì nguy cơ đáng lo ngại cấp tính nhất lúc này không phải là tim mạch nữa, mà là Viêm tụy cấp.
Viêm tuỵ cấp là một tình trạng cấp cứu y khoa cực kỳ nguy hiểm, gây đau bụng vùng thượng vị dữ dội, nôn mửa, tổn thương tuyến tụy và có thể đe dọa trực tiếp đến tính mạng nếu không được nhập viện xử lý kịp thời.
Chính vì bản chất các loại mỡ máu khác nhau như vậy, nên thuốc điều trị mỡ máu cũng được chia làm nhiều dòng khác nhau.
Có thuốc chuyên hạ mỡ xấu LDL, có thuốc chuyên hạ mỡ trung tính triglyceride, có thuốc lại có bằng chứng mạnh giúp giảm nhồi máu cơ tim và đột quỵ, cũng có những thuốc chỉ làm đẹp chỉ số nhưng chưa chắc đã chứng minh giảm biến cố rõ ràng.
Mỗi cô bác sẽ có chỉ số mỡ máu khác nhau và bệnh lý nền đi kèm, nguy cơ tim mạch khác nhau nên thuốc không phải ai cũng giống ai. Mục tiêu buổi chia sẻ ngày hôm nay không phải là để cô bác tự ra ngoài mua thuốc về uống hay tự ý thay đổi liều đã được kê mà để cô bác hiểu rõ về cái mình đang uống hàng ngày để sử dụng đúng và giảm các tác dụng phụ không mong muốn cho cơ thể.
PHẦN 1: MỤC TIÊU HƯỚNG ĐẾN KHI ĐIỀU TRỊ MỠ MÁU LÀ GÌ?
Trong y học hiện đại, việc điều trị mỡ máu cao không phải chỉ là giảm chỉ số làm đẹp tờ giấy xét nghiệm mà mục tiêu quan trọng hơn cả là giảm nguy cơ cô bác gặp các biến cố tim mạch, mạch máu như tắc mạch máu, đặt sten, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ, rồi cả những vấn đề như viêm tuỵ cấp nữa.
* Với Mục Tiêu 1: Giảm Chỉ Số Mỡ Máu Xấu LDL Và Nguy Cơ Biến Cố Tim Mạch Mạch Máu (Tắc mạch máu, Đặt stent , Nhồi máu cơ tim, Đột quỵ,)
Đối với mục tiêu này, đích nhắm chính là phải kéo chỉ số mỡ xấu LDL-C xuống mức an toàn. Và vũ khí nền tảng, có lịch sử nghiên cứu lâu đời và mạnh mẽ nhất chính là nhóm thuốc Statin.
Trong trường hợp bệnh nhân thuộc nhóm nguy cơ quá cao (ví dụ đã từng bị đột quỵ hoặc đặt stent trước đó) mà một mình thuốc Statin dù đã dùng liều tối đa vẫn không thể kéo LDL-C về mức mục tiêu, lúc này các bác sĩ mới cân nhắc phối hợp thêm các thuốc hỗ trợ như Ezetimibe, thuốc tiêm PCSK9 hoặc Bempedoic acid tùy theo từng trường hợp cụ thể.
Với Mục Tiêu 2: Giảm Chỉ Số Mỡ Máu Triglyceride Để Phòng Ngừa Viêm Tụy Cấp
Đối với mục tiêu này, đích nhắm lại là mỡ trung tính Triglyceride.
Biện pháp đầu tay và quan trọng nhất lúc này đôi khi chưa phải là uống thuốc ngay, mà là thay đổi triệt để chế độ ăn uống: tuyệt đối cai rượu bia, cắt giảm đồ ngọt (nước ngọt, bánh kẹo ngọt, trái cây quá ngọt…), giảm tinh bột nhanh (cơm trắng, bún, bánh, phở, bánh mì trắng… không ăn quá nhiều trong mỗi bữa), kiểm soát thật tốt đường huyết đối với người đang bị tiểu đường, và giảm cân nếu đang thừa cân, béo phì.
Sau đó, nếu chỉ số triglyceride vẫn vượt ngưỡng nguy hiểm, bác sĩ mới cho dùng các thuốc chuyên biệt để hạ Triglyceride như nhóm Fibrate hoặc icosapent ethyl (Omega-3 dạng kê đơn).
Như vậy tuỳ từng trường hợp , mục tiêu hướng đến là gì thì thuốc cô bác được kê có thể khác nhau.
PHẦN 2: ƯU ĐIỂM VÀ NHƯỢC ĐIỂM CỦA TỪNG NHÓM THUỐC ĐIỀU TRỊ MỠ MÁU HIỆN NAY
1. NHÓM 1: THUỐC STATIN – “NỀN MÓNG ” TRONG ĐIỀU TRỊ LDL-C CAO

Nhóm đầu tiên, phổ biến nhất, quen thuộc nhất và cũng là nhóm thuốc chiếm vị trí nền tảng trong những phác đồ điều trị mỡ máu mà cô bác hay được kê đó chính là Statin (hay còn gọi về mặt chuyên môn là thuốc ức chế men HMG-CoA reductase).
• Các Tên Hoạt Chất Phổ Biến Trên Vỉ Thuốc.
Cô bác hãy lật mặt sau vỉ thuốc mình đang uống ở nhà ra xem có chữ nào kết thúc bằng đuôi “-statin” không nhé. Ví dụ: Atorvastatin (biệt dược rất nổi tiếng là Lipitor), Rosuvastatin (Crestor), Simvastatin (Zocor), rồi còn có các thuốc khác như Pravastatin, Pitavastatin, Fluvastatin, hay Lovastatin…
• Cơ Chế Hoạt Động Của Nhóm Thuốc Statin.
Thuốc nhóm statin này hoạt động bằng cách khóa bớt một loại men ở gan, khiến nhà máy gan giảm tự sản xuất ra cholesterol . Khi thấy lượng cholesterol trong gan giảm xuống thì gan sẽ phản ứng bằng cách tăng cường các “cổng thu gom” (chuyên môn gọi là thụ thể LDL) trên bề mặt tế bào gan.
Những cổng thu gom này sẽ kéo mỡ xấu LDL-C đang chạy loăng quăng trong máu về gan để xử lý. Từ đó, lượng mỡ xấu LDL-C lưu thông trong lòng mạch máu của cô bác sẽ giảm đi rõ rệt.
• Ưu Điểm Vượt Trội Của Nhóm Thuốc Mỡ Máu Statin.
– Thứ nhất: Bằng chứng y khoa rất mạnh mẽ.
Đây là nhóm thuốc có bề dày nghiên cứu lâu đời, rộng rãi và chắc chắn nhất trong điều trị LDL-C cao.
Statin không chỉ làm giảm các con số trên giấy xét nghiệm, mà ở những người phù hợp, thuốc đã được chứng minh giúp giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, giảm đột quỵ thiếu máu não, giảm nhu cầu đặt stent hoặc tái thông mạch, và giảm các biến cố tim mạch lớn.
Nói nôm na, nhóm thuốc statin không phải thuốc uống chỉ để “làm đẹp chỉ số trên tờ xét nghiệm” cho cô bác đâu. Cái quý nhất của nhóm statin này là giúp bảo vệ mạch máu, giảm nguy cơ xảy ra những biến cố nguy hiểm như tắc mạch tim, tắc mạch não.
– Thứ hai: Giúp mảng xơ vữa ổn định hơn.
Đây là một ưu điểm rất đáng chú ý của nhóm thuốc statin.
Con ví dụ thế này cho dễ hiểu: mảng xơ vữa trong lòng mạch máu của cô bác giống như một mảng bám nằm trên thành ống nước. Điều nguy hiểm không chỉ là mảng bám đó làm lòng mạch hẹp dần, mà còn là khi mảng bám bị nứt vỡ ra.
Khi mảng xơ vữa bị nứt vỡ, cơ thể sẽ tưởng đó là một vết thương và lập tức kéo tiểu cầu, các yếu tố đông máu đến để “vá lại”. Nhưng chính quá trình vá đó có thể tạo thành cục máu đông, làm tắc mạch máu. Nếu tắc ở mạch máu nuôi tim thì có thể gây nhồi máu cơ tim. Nếu tắc ở mạch máu nuôi não thì có thể gây đột quỵ.
Nhóm thuốc mỡ máu Statin ngoài việc hạ mỡ xấu LDL-C còn có tác dụng giúp mảng xơ vữa ổn định hơn, làm mảng bám ít bị nứt vỡ hơn.
Con không nói rằng statin làm mảng xơ vữa biến mất hoàn toàn trong ngày một ngày hai. Nhưng nếu dùng đúng thuốc, đúng liều, đúng người, statin có thể giúp mạch máu an toàn hơn và giảm nguy cơ xảy ra biến cố tim mạch cho cô bác.
– Thứ ba: Có nhiều mức độ lựa chọn và chi phí tương đối hợp lý.
Nhóm thuốc mỡ máu statin này thì có nhiều mức độ lựa chọn. Có loại mạnh như atorvastatin và rosuvastatin, có loại nhẹ hơn, có loại ít tương tác hơn trong một số trường hợp.
Hướng dẫn hiện nay thường chia statin thành cường độ cao, trung bình và thấp. Statin cường độ cao có thể hỗ trợ làm LDL-C giảm từ khoảng 50% trở lên; cường độ trung bình thường hỗ trợ giảm khoảng 30–49%; còn cường độ thấp thì giảm khoảng dưới 30%.
Điểm hay là nhóm statin có nhiều hoạt chất, nhiều liều dùng khác nhau, nên bác sĩ có thể lựa chọn tùy theo tuổi, bệnh nền, mức LDL-C, nguy cơ tim mạch, chức năng gan thận, thuốc đang dùng kèm và khả năng dung nạp của từng cô bác để kê phù hợp.
Và hầu hết các thuốc nhóm statin này hiện nay đều có giá thành rất bình dân, nó cũng nằm trong danh mục bảo hiểm y tế nữa nên các cô bác có thể tiếp cận lâu dài mà không lo gánh nặng kinh tế.
• Nhược Điểm Và Những Mối Lo Ngại Khi Dùng Nhóm Thuốc Mỡ Máu Statin:
– Tác dụng phụ trên cơ (Đau mỏi cơ, chuột rút):
Đây là điều các cô bác hay than phiền với con nhất. Nhiều bác bảo: “Lan ơi, sao từ ngày uống viên này bác thấy hai cái bắp chân nó cứ mỏi rã rời, đau nhức như vừa đi bộ mười cây số về ấy”.
Đúng là Statin có thể gây ra độc tính trên cơ, từ mức độ nhẹ là đau mỏi, chuột rút cho đến mức độ cực kỳ hiếm gặp nhưng nguy hiểm là tiêu cơ vân cấp tính (làm tế bào cơ bị hủy hoại, giải phóng chất độc vào máu gây suy thận).
Tuy nhiên, cũng có rất nhiều trường hợp cô bác cũng có thể là bị đau khớp, đau cơ do tuổi tác hoặc do thoái hóa khớp trùng hợp vào thời điểm uống thuốc chứ không phải hoàn toàn do thuốc gây ra. Cái này cô bác cần theo dõi kỹ và báo lại người có chuyên môn.
Một số cô bác bảo là uống thuốc mỡ máu statin đau mỏi cơ tại sao uống CoQ10 lại thấy đỡ mỏi?
Thì chỗ này cô bác sẽ hiểu: Thuốc nhóm Statin ức chế men HMG-CoA reductase để giảm tạo cholesterol ở gan. Nhưng con đường này cũng tham gia tạo Coenzyme Q10 (CoQ10) . CoQ10 là một chất giúp tế bào — nhất là tế bào cơ và tim — tạo năng lượng.
Cơ thể có thể tự sản xuất CoQ10, nhưng nồng độ CoQ10 có xu hướng giảm theo tuổi. Một số người bị bệnh tim hoặc nếu cô bác đang dùng thuốc hạ mỡ máu nhóm statin thì cũng có thể bị giảm CoQ10 nên dễ bị đau mỏi cơ hơn.
Thật ra , CoQ10 có trong một số thực phẩm như thịt, cá, các loại hạt, nhưng lượng trong thực phẩm thường không đủ để làm tăng CoQ10 trong cơ thể nhiều.
Vì vậy có một số bác uống statin bị mỏi cơ bổ sung CoQ10 đầy đủ lại thấy đỡ hơn là như vậy. Tuy nhiên hiệu quả sẽ tuỳ cơ địa từng người đáp ứng ra sao chứ không phải ai cũng giống ai.
– Tăng men gan:
Statin chuyển hóa chủ yếu qua gan nên có thể làm tăng chỉ số men gan (ALT/AST) ở một số ít người. Thường mức tăng này nhẹ thôi, trường hợp nếu men gan tăng cao vượt quá 3 lần mức bình thường thì bác sĩ sẽ cần can thiệp điều chỉnh.
– Làm tăng nhẹ đường huyết:
Statin có thể làm tăng nhẹ đường huyết hoặc chỉ số HbA1c ở một số người, và có liên quan đến tăng nhẹ nguy cơ khởi phát đái tháo đường type 2. Nguy cơ này thường gặp hơn ở những cô bác vốn đã có sẵn yếu tố nguy cơ như tiền đái tháo đường, thừa cân, béo bụng, tăng triglyceride, tăng huyết áp hoặc ít vận động.
Tuy nhiên, các khuyến cáo y khoa đều nhấn mạnh rằng: đối với người có nguy cơ tim mạch cao, lợi ích của statin trong việc giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim, đột quỵ và các biến cố tim mạch lớn thường vượt trội hơn nguy cơ làm tăng nhẹ đường huyết.
Vì vậy, mình không nên tự ý ngưng statin chỉ vì sợ tăng đường huyết, mà trong quá trình dùng nên kiểm tra đường huyết định kỳ, ăn uống hợp lý, vận động đều và trao đổi với bác sĩ nếu có lo lắng cô bác nhé.
– Nguy cơ tương tác thuốc cao:
Một số thuốc nhóm statin (đặc biệt là simvastatin, lovastatin hay mức độ thấp hơn là atorvastatin) được chuyển hóa qua một loại men gan tên là CYP3A4.
Nếu cô bác uống chung thuốc mỡ máu statin với các thuốc có khả năng ức chế men CYP3A4 này, chẳng hạn một số thuốc tim mạch (như amiodarone, diltiazem và verapamil …), thuốc kháng nấm nhóm azole (như itraconazole, ketoconazole, voriconazole, posaconazole…) thuốc kháng sinh nhóm macrolide (như erythromycin, clarithromycin) làm nồng độ statin trong máu có thể tăng lên.
Khi nồng độ statin tăng quá cao, nguy cơ tác dụng phụ trên cơ sẽ tăng, biểu hiện bằng đau cơ, yếu cơ, viêm cơ; nặng hơn có thể dẫn đến tiêu cơ vân. Tiêu cơ vân làm các chất từ cơ, phóng thích vào máu và có thể gây tổn thương thận, thậm chí suy thận cấp.
Vì vậy cô bác không nên tự ý phối hợp thuốc và cần báo cho bác sĩ hoặc dược sĩ biết tất cả thuốc đang sử dụng nhé!
2. NHÓM 2: EZETIMIBE – THUỐC UỐNG HỖ TRỢ HẠ MỠ XẤU LDL, THƯỜNG PHỐI HỢP VỚI STATIN
Nhóm thứ hai là ezetimibe. Đây là thuốc uống, thường dùng liều 10 mg mỗi ngày, và hay được phối hợp với statin.
Tên thuốc phổ biến: Ezetimibe (liều thông thường là 10mg mỗi ngày).
Trên thị trường hiện nay, để tiện cho cô bác đỡ phải uống nhiều viên, các hãng dược hay bào chế dạng viên phối hợp “2 trong 1”, tức là trong một viên thuốc có trộn sẵn cả Statin và Ezetimibe luôn . ví dụ cô bác thấy các tên biệt dược là Atozet (chứa ezetimibe và atorvastatin) hoặc Rosuzet (chứa Ezetimibe + Rosuvastatin)…
Cơ chế hoạt động:
Nếu statin làm giảm sản xuất cholesterol tại gan, thì ezetimibe lại làm giảm hấp thu cholesterol ở ruột.
Ở ruột non của mình có một “cánh cổng” chuyên vận chuyển cholesterol từ lòng ruột vào cơ thể. Cánh cổng này tên chuyên môn là NPC1L1. Ezetimibe sẽ ức chế cánh cổng này, từ đó làm giảm hấp thu cholesterol tại ruột non.
Điểm hay là cholesterol trong ruột không chỉ đến từ đồ ăn bên ngoài như thịt mỡ, nội tạng, lòng đỏ trứng, đồ chiên rán. Một phần lớn cholesterol trong ruột còn đến từ dịch mật do cơ thể tiết xuống ruột. Vì vậy, dù cô bác đã ăn kiêng hơn,thì ezetimibe vẫn có thể có tác dụng vì thuốc làm giảm hấp thu cả cholesterol từ thức ăn và cholesterol từ dịch mật quay trở lại cơ thể.
Nói dễ hiểu: statin giảm “nguồn sản xuất” ở gan, còn ezetimibe giảm “nguồn hấp thu” ở ruột. Hai cơ chế này bổ sung cho nhau, nên ezetimibe thường được dùng kèm khi statin chưa đưa LDL-C về mức bác sĩ mong muốn.
Ưu điểm của ezetimibe là dễ dùng, ít gây đau cơ hơn statin, ít tương tác hơn nhiều thuốc khác, và phù hợp khi LDL-C chưa đạt mục tiêu dù đã dùng statin. Nghiên cứu IMPROVE-IT trên bệnh nhân sau hội chứng mạch vành cấp (tình trạng lưu lượng máu nuôi tim bị giảm hoặc tắc nghẽn đột ngột) thì cho thấy thêm ezetimibe vào simvastatin giúp mỡ xấu LDL-C giảm thêm và giảm biến cố tim mạch so với chỉ dùng statin đơn thuần.
Tuy nhiên, nhược điểm của ezetimibe là hiệu quả khi dùng đơn độc không cao. Nếu cô bác không uống statin mà chỉ dùng một mình ezetimibe, mức giảm mỡ xấu LDL-C thường không mạnh bằng statin cường độ trung bình hoặc cường độ cao. Bởi vì cholesterol trong cơ thể không chỉ đến từ thức ăn (thức ăn chỉ chiếm 20-30% thôi). Phần lớn cholesterol là do cơ thể tự sản xuất (chiếm tới 70-80% ) mà gan lại là cơ quan sản xuất cholesterol chính của cơ thể.
Như vậy, Gan cũng tự sản xuất cholesterol mà thuốc Ezetimibe chủ yếu chặn ở ruột, nên nếu chỉ chặn đường hấp thu ở ruột mà không tác động vào phần gan tự sản xuất, hiệu quả hạ mỡ xấu LDL-C nó sẽ không cao.
Cho nên, trong nhiều trường hợp mỡ xấu LDL-C cao hoặc nguy cơ tim mạch cao, thuốc ezetimibe chỉ là hỗ trợ thôi còn cái chính vẫn là thuốc statin. Nếu dùng một mình, ezetimibe thường không đủ mạnh để gánh toàn bộ việc điều trị, trừ khi người bệnh không dung nạp thuốc statin hoặc bác sĩ có lý do riêng để dùng đơn độc một mình ezetimibe thì mới dùng thôi.
Bên cạnh đó thì Ezetimibe khi dùng cũng có thể gây rối loạn tiêu hóa nhẹ, đau bụng, tiêu chảy và mệt ở một số người.
Cô bác nhớ giúp con: statin giống như người giảm sản xuất cholesterol ở gan, còn ezetimibe giống như người giảm hấp thu cholesterol ở ruột. Hai thuốc này đi cùng nhau trong nhiều trường hợp vì cơ chế bổ sung cho nhau.
Nếu trong đơn của cô bác có thuốc phối hợp statin + ezetimibe, cô bác đừng tự ý tách thuốc, bỏ một thuốc, hoặc đổi sang loại khác chỉ vì thấy LDL-C đã giảm. Việc điều chỉnh thuốc phải dựa vào xét nghiệm, bệnh nền và nguy cơ tim mạch cô bác nhé!
3. NHÓM 3: THUỐC TIÊM ỨC CHẾ PCSK9 – HẠ LDL RẤT MẠNH, DÙNG CHO NGƯỜI NGUY CƠ CAO
Bây giờ con xin nhắc tới một nhóm thuốc thuộc hàng “công nghệ cao” của y học hiện đại, đó là thuốc ức chế PCSK9 dạng kháng thể đơn dòng.
* Các tên hoạt chất phổ biến: Evolocumab (tên biệt dược Repatha) hoặc Alirocumab (tên biệt dược là Praluent).
* Cách sử dụng đặc biệt:
Thuốc được thiết kế dưới dạng thuốc tiêm dưới da, thường là bút tiêm hoặc bơm tiêm đóng sẵn. Vị trí tiêm thường là vùng bụng, đùi hoặc mặt ngoài cánh tay, và cần luân phiên vị trí tiêm. Tuỳ từng thuốc thì cứ mỗi 2 tuần hoặc mỗi 4 tuần (1 tháng) mới phải bấm tiêm một lần, tương tự như cách tiêm insulin của bệnh nhân tiểu đường vậy ạ.
* Cơ chế hoạt động của thuốc tiêm ức chế PCSK9:
Trong cơ thể chúng ta có một loại protein tên là PCSK9. Protein này có thể làm giảm số lượng “cổng thu gom mỡ xấu LDL-C” ở gan. Những cổng thu gom này, chuyên môn gọi là thụ thể LDL, có nhiệm vụ kéo bớt cholesterol xấu LDL-C từ máu về gan để xử lý.
Khi thuốc tiêm PCSK9 đi vào cơ thể, thuốc sẽ gắn vào và ức chế cái protein PCSK9. Nhờ vậy, gan sẽ giữ lại được nhiều “cổng thu gom LDL-C” hơn trên bề mặt tế bào gan. Khi số cổng thu gom tăng lên, gan sẽ kéo mỡ xấu LDL-C trong máu về để xử lý được nhiều hơn, Chỉ số mỡ máu LDL sẽ giảm xuống mạnh hơn.
Nói dễ hiểu, thuốc này giúp gan “dọn mỡ xấu LDL ” hiệu quả hơn.
* Ưu Điểm Vượt Trội của thuốc tiêm ức chế PCSK9:
– Thứ nhất là khả năng hạ LDL-C rất mạnh:
Thuốc ức chế PCSK9 có thể giúp giảm LDL-C thêm khoảng 50–60%. Đây là mức giảm rất đáng kể, đặc biệt với những cô bác có LDL-C còn cao dù đã dùng statin và/hoặc ezetimibe.
Tuy nhiên cô bác cần hiểu rõ: thuốc này có bằng chứng cho việc giảm LDL cholesterol và giảm biến cố tim mạch ở nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao chứ không phải ai bị mỡ máu cao cô bác cũng cần dùng tới thuốc tiêm này.
– Thứ hai là nó hữu ích khi LDL-C chưa đạt mục tiêu dù đã điều trị tối ưu bằng viên uống:
Có những cô bác đã dùng statin liều phù hợp, thậm chí phối hợp thêm ezetimibe, ăn uống và vận động cũng đã cố gắng, nhưng LDL-C vẫn chưa về mức an toàn. Nhất là những người đã từng đặt stent, từng nhồi máu cơ tim, từng đột quỵ do tắc mạch, hoặc có tăng cholesterol gia đình, thì bác sĩ có thể cân nhắc nhóm thuốc tiêm PCSK9.
Nhóm thuốc này giống như một “lực lượng tăng cường” rất mạnh, được dùng khi các biện pháp nền tảng đường uống chưa đủ để đưa LDL-C về mục tiêu mong muốn.
– Thứ ba có thể là lựa chọn cho một số người không dung nạp statin:
Đối với những cô bác thuộc nhóm nguy cơ cao nhưng không dung nạp được nhóm statin, ví dụ đã thử nhiều loại statin, thử giảm liều, đổi thời điểm uống, nhưng vẫn đau cơ nhiều hoặc có vấn đề không thể tiếp tục dùng, bác sĩ có thể cân nhắc các thuốc không phải statin, trong đó có thuốc tiêm ức chế PCSK9.
Tuy nhiên, con không gọi đây là “sự thay thế hoàn hảo” cho tất cả mọi người. Vì nếu cô bác dung nạp được statin, statin đường uống vẫn thường là nền tảng điều trị. Vì vậy, dùng thuốc nào vẫn phải tùy chỉ định bác sĩ cô bác nhé!
– Nhược Điểm Và Rào Cản Của Thuốc Tiêm Ức Chế PCSK9:
Thứ nhất là phải tiêm. Có cô bác ngại kim tiêm, hoặc không tiện tự tiêm.
Thứ hai là chi phí và khả năng tiếp cận thường là rào cản. Vì là thuốc sinh học công nghệ mới nên chi phí cho một mũi tiêm hiện nay là rất cao, nằm ngoài khả năng chi trả của đại đa số cô bác nếu không có điều kiện kinh tế vững vàng hoặc bảo hiểm đặc biệt chi trả. Đây chính là rào cản lớn nhất khiến thuốc chưa thể phổ biến rộng rãi tại các tuyến cơ sở.
Thứ ba là có thể có phản ứng tại chỗ tiêm. Vì là đường tiêm nên một số cô bác có thể gặp phải phản ứng như đỏ da, ngứa, sưng hoặc đau nhẹ tại vị trí đâm kim. Một số ít người có thể có triệu chứng giống như bị cảm cúm nhẹ trong vài ngày đầu sau tiêm.
Và thứ tư là thuốc này thường hay dành cho nhóm nguy cơ cao, không phải ai cholesterol hơi cao cũng phải cần dùng.
—
Ví dụ : Nếu cô bác ngoài 50 tuổi rồi, mình bị tăng cholesterol gia đình, LDL-C rất cao ngay từ khi còn trẻ, cha từng nhồi máu cơ tim sớm. Mình đã ăn uống tập luyện tốt rồi và cũng đã dùng thuốc statin mạnh kết hợp cả thuốc ezetimibe rồi , nhưng mỡ xấu LDL – cholesterol vẫn cao. Thì khi đó tất cả các biện pháp đường uống kia nó đều chưa giảm tốt được , lúc đó bác sĩ chuyên khoa tim mạch họ mới có thể là cân nhắc cho cô bác thuốc tiêm PCSK9.
Vì vậy cô bác lưu ý: Thuốc tiêm PCSK9 rất mạnh, có bằng chứng giảm biến cố tim mạch, nhưng thường dành cho người nguy cơ cao hoặc LDL cholesterol khó kiểm soát dù đã dùng các biện pháp khác hỗ trợ, nó không phải lựa chọn đầu tiên cho tất cả mọi người. Bác sĩ cho dùng cô bác mới dùng nhé, chứ không tự ý dùng.
4. NHÓM 4: BEMPEDOIC ACID – THUỐC UỐNG MỚI HƠN, HỮU ÍCH KHI KHÔNG DUNG NẠP STATIN
* Cơ chế hoạt động:
Thuốc bempedoic acid này cũng đánh vào quá trình tổng hợp cholesterol ở gan giống như nhóm thuốc statin, nhưng ở vị trí khác statin.
Điểm đặc biệt tạo nên sự khác biệt của bempedoic acid là: thuốc này khi đi vào cơ thể cần được kích hoạt, hay nói dễ hiểu là cần được “bật công tắc” để hoạt động. Cái “công tắc” này có nhiều chủ yếu ở tế bào gan. Còn tế bào cơ bắp của chúng ta gần như không có hệ thống hoạt hóa thuốc này.
Vì vậy, về mặt cơ chế, bempedoic acid ít tác động trực tiếp lên cơ hơn thuốc statin
* Ưu Điểm Của Thuốc Bempedoic Acid:
+ Ít gây tác dụng phụ trên cơ hơn về mặt cơ chế:
Nhờ đặc tính chọn lọc chủ yếu hoạt động tại gan, bempedoic acid là một lựa chọn dạng thuốc uống đáng cân nhắc dành cho những cô bác bị không dung nạp statin do đau cơ. Tức là những cô bác đã thử dùng statin nhưng bị đau cơ nhiều, không thể tiếp tục dùng liều phù hợp, hoặc bác sĩ đánh giá là khó dung nạp statin.
Nghiên cứu trên bệnh nhân không dung nạp statin thì cũng đã chứng minh thuốc này giúp giảm mỡ xấu LDL-C và giảm có ý nghĩa nguy cơ xảy ra các biến cố tim mạch lớn so với giả dược.
+ Dạng viên uống tiện lợi:
Không cần phải tiêm như nhóm PCSK9, cô bác chỉ cần uống thuốc dạng viên là được, rất phù hợp cho những người sợ kim tiêm hoặc không thuận tiện dùng thuốc tiêm lâu dài.
– Nhược điểm cần hết sức lưu ý của thuốc mỡ máu Bempedoic Acid::
Nhóm thuốc bempedoic acid thì có khá nhiều nhược điểm như là:
– Làm tăng chỉ số acid uric máu:
Đây là nhược điểm rất đáng lưu ý đối với những cô bác có tiền sử gout. Thuốc này có thể làm tăng acid uric máu, từ đó có thể làm bùng phát các cơn đau khớp cấp tính của bệnh gout.
Cơn gout thường biểu hiện bằng sưng, nóng, đỏ, đau dữ dội ở khớp, hay gặp ở ngón chân cái, cổ chân hoặc đầu gối.
Bác nào có sẵn tiền sử bệnh gout, acid uric cao hoặc sỏi thận do acid uric thì phải hết sức cẩn thận và báo trước cho bác sĩ để bác sĩ có muốn kê nhóm thuốc này thì họ sẽ cân nhắc phù hợp hơn nhé.
– Nguy cơ ảnh hưởng đến gân:
Thuốc Bempedoic Acid thì cũng có một cảnh báo y khoa về việc có thể làm tăng nguy cơ viêm gân hoặc hiếm hơn là đứt gân, ví dụ gân gót chân Achilles. Nguy cơ này có thể cao hơn ở những cô bác lớn tuổi, người đang sử dụng thuốc kháng viêm nhóm corticoid lâu ngày, người đang dùng kháng sinh nhóm fluoroquinolone, người suy thận, hoặc người từng có tiền sử chấn thương gân, bệnh lý gân trước đó.
Nếu trong lúc dùng thuốc mà cô bác thấy đau vùng gân gót chân, sưng đau gân, đau vai bất thường, đau khi đi lại ở vùng gân, cô bác nên ngừng vận động mạnh và báo bác sĩ sớm.
– Hiệu lực hạ LDL-C không mạnh bằng statin và thuốc tiêm PCSK9:
Bempedoic acid có tác dụng hạ LDL-C, nhưng nhìn chung không mạnh bằng thuốc tiêm ức chế PCSK9 hay thuốc statin cường độ cao. Vì vậy, bempedoic acid không phải là thuốc thay thế statin cho tất cả mọi người, mà thường được cân nhắc khi cô bác không dung nạp statin hoặc cần thêm thuốc để hạ LDL-C theo chỉ định của bác sĩ.
Ví dụ: Cô bác hơn 50 tuổi rồi, từng được kê nhiều loại statin nhưng lần nào cũng đau cơ nhiều, đã thử giảm liều và đổi thuốc nhưng vẫn không dung nạp chỉ số LDL-C vẫn cao, lại có nguy cơ tim mạch. Bác sĩ lúc này họ cũng có thể cân nhắc cho dùng thuốc nhóm ezetimibe, bempedoic acid hoặc thuốc tiêm tùy mức LDL và điều kiện của cô bác.
5. NHÓM 5: INCLISIRAN – THUỐC TIÊM ÍT LẦN, HẠ LDL TỐT NHƯNG CÒN CẦN DỮ LIỆU CHỨNG MINH
Thêm một cái tên mới hơn trong làng điều trị mỡ máu LDL-C cao là inclisiran.
– Cơ chế hoạt động: Thuốc áp dụng công nghệ sinh học can thiệp RNA, gọi là siRNA, để làm giảm quá trình gan sản xuất ra protein PCSK9 . Khi lượng PCSK9 giảm xuống, gan sẽ giữ lại được nhiều “cổng thu gom mỡ xấu LDL-C” hơn, từ đó kéo mỡ xấu LDL-C trong máu về gan xử lý hiệu quả hơn.
– Cách dùng rất độc đáo: Đây cũng là thuốc đường tiêm dưới da, nhưng lịch tiêm của nó thì vô cùng “nhàn hạ”. Cô bác tiêm mũi đầu tiên, sau đó 3 tháng tiêm mũi thứ hai, và kể từ đó về sau thì cứ đều đặn 6 tháng (nửa năm) mới phải tiêm lại một lần. Một năm chỉ cần tiêm 2 lần là xong!
– Ưu điểm của thuốc mỡ máu inclisiran:
Ưu điểm rất rõ là tiện về lịch dùng. Các cô bác lớn tuổi rất hay gặp tình trạng ngày nhớ ngày quên, uống thuốc mỡ máu hôm uống hôm bỏ.
Với thuốc tiêm Inclisiran, nửa năm mới phải tiêm một lần tại cơ sở y tế, cô bác không còn phải lo lắng về việc quên uống thuốc mỗi tối nữa.
Với những cô bác khó tự tiêm mỗi 2 tuần, hoặc không phù hợp với thuốc tiêm PCSK9 dạng kháng thể, inclisiran cũng có thể thuận tiện hơn. Thuốc có khả năng hạ LDL-C khoảng 50% trong các nghiên cứu về chỉ số lipid.
– Nhược điểm quan trọng của thuốc mỡ máu inclisiran.:
Dù thuốc làm các con số mỡ máu LDL-C trên giấy xét nghiệm giảm, nhưng các hướng dẫn y khoa lớn hiện nay vẫn ghi nhận rõ: dữ liệu nghiên cứu dài hạn để khẳng định chắc chắn xem việc hạ LDL-C của Inclisiran có giúp giảm tỷ lệ nhồi máu cơ tim và đột quỵ một cách vững chắc và nhất quán như Statin hay PCSK9 kháng thể đơn dòng hay không thì vẫn đang trong quá trình tiếp tục được củng cố và theo dõi , nghiên cứu thêm.
Do đó, thuốc thường chưa được xếp lên làm lựa chọn ưu tiên đầu tay cho tất cả mọi người.
Bên cạnh đó thì chi phí của nó hiện tại cũng rất cao và có thể gây phản ứng đau, sưng đỏ tại chỗ tiêm tương tự các thuốc đường tiêm khác. Vì thời gian tác dụng kéo dài, cô bác cũng cần trao đổi kỹ nếu từng dị ứng thuốc tiêm.
Cô bác lưu ý: Inclisiran có ưu điểm tiêm ít lần và hạ mỡ LDLcholesterol tốt, nhưng bằng chứng về việc giảm biến cố tim mạch vẫn đang tiếp tục được nghiên cứu và theo dõi thêm, chưa chắc chắn bẳng nhóm statin.
6. NHÓM 6: FIBRATE – THUỐC QUAN TRỌNG KHI TRIGLYCERIDE CAO

Bây giờ, con xin phép được chuyển sang nhóm thuốc mà các cô bác đang có “Triglyceride cao” cần phải đặc biệt chú ý, đó là nhóm Fibrate.
* Các tên hoạt chất phổ biến: Hai hoạt chất cô bác hay gặp là fenofibrate (ví dụ biệt dược Lipanthyl) và gemfibrozil (ví dụ biệt dược Lopid)
* Cơ chế hoạt động: Nhóm thuốc này kích hoạt một loại thụ thể trong tế bào (gọi là PPAR-alpha), làm cơ thể tăng cường phân hủy các phân tử mỡ trung tính trong máu, đồng thời giảm bớt việc gan tạo và tiết ra các hạt mang triglyceride.
* Ưu điểm lớn nhất của nhóm fibrate này là giảm Triglyceride nhanh chóng:
Nhóm fibrate giúp giảm chỉ số Triglyceride xuống từ 30% đến 50%. Như con đã chia sẻ thì, khi triglyceride của cô bác tăng cao, đặc biệt từ trên 500 mg/dL( trên 5,6 mmol/L) bác sĩ sẽ bắt đầu rất lo nguy cơ viêm tụy cấp và thường phải xử trí nghiêm túc hơn. Khi triglyceride tăng lên trên 1000 mg/dL (trên 11,3 mmol/L), nguy cơ viêm tụy cấp càng đáng chú ý hơn.
Trong những trường hợp triglyceride rất cao, việc bác sĩ kê fibrate thường không chỉ nhằm làm đẹp con số xét nghiệm, mà là để kéo triglyceride xuống, giảm nguy cơ viêm tụy cấp. Vì cô bác biết viêm tụy cấp có thể gây đau bụng dữ dội, nôn ói, phải nhập viện, thậm chí có thể nặng nếu không xử trí kịp thời.
* Nhược điểm và Nguy cơ tương tác thuốc đáng sợ của nhóm mỡ máu fibrate:
– Không có tác dụng nhiều trong hạ mỡ xấu LDL-C:
Fibrate gần như bất lực trước cái anh mỡ xấu LDL-C. Ở một số người, thuốc nhóm fibrate có thể làm LDL-C giảm nhẹ hoặc gần như không thay đổi. Thậm chí với những cô bác có triglyceride rất cao, sau uống fibrate vào thì chỉ số mỡ xấu LDL-C đôi khi có thể nhích tăng nhẹ lên.
Do đó, ai bị xơ vữa động mạch ,mạch vành mà uống mỗi thuốc Fibrate thì chưa đúng đích đâu ạ.
– Nguy cơ tổn thương cơ khi phối hợp sai cách với statin:
Rất nhiều cô bác vừa có LDL-C cao, vừa có triglyceride cao. Khi đó, bác sĩ có thể cân nhắc phối hợp thuốc hạ LDL-C như statin với thuốc hạ triglyceride như fibrate trong một số trường hợp, nhất là khi triglyceride cao nhiều.
Nhưng phối hợp này phải rất cẩn thận, vì statin và fibrate đều có thể liên quan đến tác dụng phụ trên cơ. Đặc biệt, nếu dùng gemfibrozil chung với statin, nguy cơ đau cơ nặng, bệnh cơ hoặc tiêu cơ vân sẽ tăng đáng kể.
Tiêu cơ vân là tình trạng cơ bị tổn thương nặng, có thể làm nước tiểu sẫm màu, tăng men cơ, ảnh hưởng đến thận và cần xử trí sớm.
Chính vì vậy, theo khuyến cáo hiện nay, gemfibrozil không nên dùng chung với statin. Nếu thật sự cần phối hợp statin với một thuốc nhóm fibrate, bác sĩ thường sẽ cân nhắc fenofibrate hoặc fenofibric acid vì nguy cơ tương tác trên cơ thấp hơn so với gemfibrozil.
Cô bác ở nhà tuyệt đối không được tự ý ra hiệu thuốc mua gemfibrozil về uống kèm với viên statin của mình nhé. Việc phối hợp thuốc mỡ máu phải do bác sĩ quyết định, vì cần xem mức triglyceride, LDL-C, chức năng gan thận, tuổi tác, bệnh nền và các thuốc cô bác đang dùng.
– Khi dùng thuốc nhóm fibrate cũng cần lưu ý gan, thận và túi mật:
Thuốc nhóm fibrate cũng có thể làm tăng men gan ở một số người, tăng nguy cơ hình thành sỏi mật hoặc làm nặng bệnh túi mật ở người có sẵn vấn đề. Và không phù hợp cho những người bị suy thận, suy giảm chức năng thận nặng.
Vì vậy, khi dùng nhóm thuốc mỡ máu fibrate này để giảm triglyceride, cô bác nên báo bác sĩ về các vấn đề mình đang có , ví dụ đang có bệnh thận, bệnh gan, sỏi mật, đau hạ sườn phải, đang dùng thuốc chống đông như warfarin, hoặc đang dùng nhiều thuốc khác hay không để bác sĩ biết và phối hợp thuốc phù hợp.
NHÓM 7: THUỐC ICOSAPENT ETHYL KÊ ĐƠN GIẢM TRIGLYCERIDE
Icosapent ethyl là một loại thuốc kê đơn có chứa một dạng tinh khiết của axit béo omega-3 gọi là EPA.
Không giống như các chất bổ sung dầu cá thông thường, loại thuốc này chỉ chứa EPA và không có DHA. Thuốc có nguồn gốc từ dầu cá nhưng trải qua quá trình tinh chế rộng rãi để loại bỏ tạp chất và cô đặc thành phần hoạt chất.
* Cơ Chế Tác Động:
Sau khi uống, icosapent ethyl được chuyển hóa thành EPA trong cơ thể. EPA có thể giúp làm giảm triglycerid máu thông qua nhiều cơ chế khác nhau.
Thứ nhất, thuốc giúp giảm quá trình tạo triglycerid tại gan. Gan là cơ quan quan trọng trong việc sản xuất mỡ máu, đặc biệt là VLDL, một loại lipoprotein giàu triglycerid. Khi gan tạo ra ít VLDL hơn, lượng triglycerid trong máu có thể giảm xuống.
Thứ hai, thuốc có thể giúp tăng sự thanh thải các hạt mỡ giàu triglycerid ra khỏi máu. Nói dễ hiểu hơn, thuốc không chỉ giúp cơ thể tạo ra ít mỡ triglycerid hơn, mà còn hỗ trợ cơ thể “dọn bớt” lượng mỡ triglycerid đang lưu hành trong máu.
Thứ ba, EPA còn có thể có các tác dụng có lợi trên thành mạch máu. Một số dữ liệu cho thấy EPA có thể liên quan đến giảm viêm, giảm stress oxy hóa, cải thiện chức năng nội mô mạch máu và hỗ trợ làm mảng xơ vữa ổn định hơn. Vì vậy, lợi ích của icosapent ethyl có thể không chỉ đến từ việc hạ triglycerid, mà còn từ các tác động bảo vệ mạch máu khác.
* Ưu điểm của thuốc Icosapent ethyl :
Ưu điểm là đã có những nghiên cứu chứng minh hiệu qủa trong việc giảm triglyceride và giúp giảm thêm nguy cơ biến cố tim mạch ở một số người bệnh đang dùng thuốc statin nhưng vẫn còn nguy cơ cao.
Một số viên omega-3 từ cá màu vàng mà có cả EPA và DHA khi dùng liều cao để giảm triglyceride thì lại có thể làm mỡ xấu LDL-cholesterol tăng nhẹ ở một số người. Icosapent ethyl có ưu điểm là trong các nghiên cứu, thuốc giúp giảm triglycerid mà nhìn chung không làm tăng LDL-cholesterol đáng kể so với giả dược.
* Nhược điểm và điểm cần thận trọng của thuốc Icosapent ethyl:
Nhược điểm đầu tiên là icosapent ethyl là dạng thuốc kê đơn liều dùng mỗi ngày cao thưởng khoảng 4000mg , không phải thực phẩm bổ sung tự mua tự uống được. Người bệnh cần được đánh giá đầy đủ về chỉ số mỡ máu, nguy cơ tim mạch, bệnh nền và thuốc đang sử dụng trước khi dùng để tránh tác dụng phụ.
Nhược điểm thứ hai là thuốc có thể làm tăng nguy cơ rung nhĩ hoặc cuồng nhĩ. Đây là tình trạng rối loạn nhịp tim, có thể gây cảm giác hồi hộp, tim đập nhanh, đánh trống ngực, mệt, khó thở hoặc chóng mặt. Nguy cơ này cần đặc biệt chú ý ở những người từng có tiền sử rung nhĩ hoặc rối loạn nhịp tim. Thông tin kê đơn của thuốc thì cũng có cảnh báo về nguy cơ rung nhĩ/cuồng nhĩ khi sử dụng icosapent ethyl.
Nhược điểm thứ ba nữa là thuốc có thể làm tăng nguy cơ chảy máu, nhất là ở người đang dùng thuốc chống đông hoặc thuốc chống kết tập tiểu cầu. Ví dụ: aspirin, clopidogrel, warfarin, rivaroxaban, apixaban, dabigatran hoặc các thuốc tương tự. Người bệnh đang dùng các thuốc này không nên tự ý dùng thêm icosapent ethyl nếu chưa hỏi bác sĩ.
Nhược điểm thứ tư là thuốc cũng có thể gây một số tác dụng không mong muốn như đau cơ xương khớp, phù ngoại biên, táo bón, đau họng, tăng nguy cơ gout hoặc làm bùng phát cơn gout ở một số người. Nếu đang có tiền sử gout, acid uric cao hoặc hay sưng đau khớp ngón chân cái, thì cô bác nên báo cho bác sĩ trước khi dùng.
Nhược điểm thứ năm nữa là người có tiền sử dị ứng cá hoặc hải sản cần thận trọng. Vì thuốc có nguồn gốc từ dầu cá, người bệnh nên thông báo cho bác sĩ nếu từng bị dị ứng với cá, tôm, cua, hải sản hoặc từng có phản ứng dị ứng nặng.
Nhược điểm thứ sáu là thuốc thường cần dùng liều tương đối cao, phổ biến là 4000 mg/ngày, uống cùng bữa ăn theo hướng dẫn kê đơn. Điều này có thể làm cô bác phải uống nhiều viên mỗi ngày, dễ quên thuốc hoặc dùng không đều. Nếu dùng không đúng liều, hiệu quả điều trị có thể giảm.
8. NHÓM 8: THUỐC NIACIN – ACID NICOTINIC, MỘT DẠNG CỦA VITAMIN B3
Bây giờ con nói đến một nhóm thuốc từng được dùng trong điều trị mỡ máu, đó là niacin, hay còn gọi là acid nicotinic.
Niacin là một dạng của vitamin B3.
Cô bác cần phân biệt rõ: vitamin B3 có nhiều dạng. Dạng có tác dụng lên mỡ máu là niacin, hay acid nicotinic. Còn niacinamide, hay nicotinamide, thì không có tác dụng giảm mỡ máu giống như niacin.
Vì vậy, cô bác không nên tự mua vitamin B3 về uống với mục tiêu là giảm cholesterol hay giảm triglycerid nhé, nó còn tuỳ dạng vitamin B3. Và liều dùng bổ sung hàng ngày thì nó là vitamin bổ sung thôi, nhưng liều để điều trị mỡ máu thì cần liều cao và liều cao thì nó được xem như một thuốc, cần có bác sĩ theo dõi.
Về cơ chế, niacin tác động chủ yếu lên mô mỡ và gan.
Nói dễ hiểu, niacin giúp làm giảm lượng chất béo từ mô mỡ đưa về gan. Khi gan nhận ít nguyên liệu tạo mỡ hơn, gan sẽ tạo ít triglyceride hơn và phóng thích ít VLDL vào máu hơn. Mà sau khi lưu hành trong máu, VLDL có thể được chuyển hóa dần thành mỡ xấu LDL. Vì vậy, khi VLDL giảm thì mỡ xấu LDL-cholesterol cũng có thể giảm ở một mức độ nhất định.
Ngoài ra, niacin còn có thể làm tăng HDL-cholesterol. HDL thường được gọi là “cholesterol tốt”, vì có vai trò đưa cholesterol dư thừa từ các mô trở về gan để xử lý và đào thải.
Trước đây, vì niacin vừa có thể giảm triglycerid, giảm VLDL, giảm mỡ xấu LDL ở mức nhất định, lại vừa làm tăng mỡ tốt HDL, nên thuốc này từng được dùng khá nhiều trong điều trị rối loạn mỡ máu.
Tuy nhiên, điểm rất quan trọng cô bác cần nhớ là: làm đẹp chỉ số mỡ máu không có nghĩa chắc chắn sẽ giảm nhồi máu cơ tim, đột quỵ hoặc tử vong tim mạch.
Các nghiên cứu hiện đại cho thấy niacin, dù cải thiện được một số chỉ số mỡ máu, nhưng không chứng minh được lợi ích rõ ràng trong việc giảm tử vong, nhồi máu cơ tim hoặc đột quỵ ở đa số người bệnh, đặc biệt là khi người bệnh đã được điều trị bằng statin.
Vì vậy, hiện nay niacin không còn là thuốc ưu tiên trong điều trị mỡ máu nữa. Thuốc này ít được dùng hơn trước rất nhiều. Nếu bác sĩ có cân nhắc dùng, thì thường phải cân nhắc rất kỹ giữa lợi ích và nguy cơ.
* Vậy Ưu Điểm Của Thuốc Niacin Là Gì?
Ưu điểm là thuốc có thể tác động lên nhiều chỉ số mỡ máu cùng lúc. Thuốc có thể làm giảm triglycerid, giảm VLDL, giảm LDL-cholesterol ở mức nhất định và làm tăng HDL-cholesterol. Đây là lý do trước đây niacin từng được chú ý nhiều.
Nhưng Nhược Điểm Của Niacin Cũng Khá Nhiều.
Tác dụng phụ rất hay gặp là đỏ bừng mặt, nóng ran, ngứa, cảm giác châm chích da. Có người uống vào thấy mặt, cổ, ngực nóng đỏ lên, rất khó chịu. Đây là một trong những lý do khiến nhiều người phải bỏ thuốc.
Niacin cũng có thể gây khó chịu đường tiêu hóa như buồn nôn, đau bụng, đầy bụng, tiêu chảy hoặc khó chịu dạ dày.
Một tác dụng phụ quan trọng hơn là thuốc có thể ảnh hưởng đến gan. Dùng niacin liều cao, đặc biệt một số dạng phóng thích kéo dài, có thể làm tăng men gan, viêm gan do thuốc hoặc tổn thương gan nặng. Vì vậy, nếu dùng niacin liều điều trị thì cần được theo dõi chức năng gan.
Niacin cũng có thể làm tăng đường huyết. Người bị tiểu đường hoặc tiền tiểu đường cần thận trọng, vì thuốc có thể làm đường máu khó kiểm soát hơn.
Ngoài ra, niacin có thể làm tăng acid uric, từ đó làm nặng bệnh gout hoặc dễ gây cơn gout ở người có sẵn nguy cơ. Cô chú nào từng bị gout, từng sưng đau khớp ngón chân cái, hoặc acid uric cao thì phải báo bác sĩ.
Niacin cũng cần thận trọng khi dùng chung với statin, vì có thể làm tăng nguy cơ đau cơ hoặc tổn thương cơ ở một số người, nhất là người cao tuổi, người có bệnh gan thận hoặc đang dùng nhiều thuốc khác.
==> Tóm lại, cô bác có thể hiểu ngắn gọn như sau:
Niacin là acid nicotinic, một dạng của vitamin B3. Khi dùng liều cao theo chỉ định y khoa, niacin có thể được xem là thuốc điều trị rối loạn mỡ máu. Thuốc có thể làm giảm triglyceride, giảm VLDL, giảm mỡ xấu LDL ở mức nhất định và tăng mỡ tốt HDL. Nhưng hiện nay, niacin không còn là lựa chọn ưu tiên, vì lợi ích giảm nhồi máu cơ tim, đột quỵ và tử vong tim mạch không rõ ràng trong các nghiên cứu hiện đại, trong khi tác dụng phụ lại khá nhiều.
Thông điệp Lan muốn nhấn mạnh là: cô bác không nên tự mua vitamin B3 liều cao về tự uống. Muốn dùng niacin để điều trị mỡ máu thì phải có bác sĩ chỉ định và theo dõi, đặc biệt nếu mình có bệnh gan, tiểu đường, gout, đang dùng statin hoặc đang dùng nhiều thuốc tim mạch khác.
PHẦN 3: VẬY THUỐC MỠ MÁU NÀO LÀ TỐT NHẤT?
Nếu cô bác hỏi: “Thuốc nào tốt nhất?” thì câu trả lời đúng là: thuốc tốt nhất là thuốc phù hợp nhất với chỉ số, bệnh nền, nguy cơ và khả năng dung nạp của cô bác. Không có một viên thuốc chung cho tất cả mọi người.
Nếu mục tiêu chính là hạ LDL-C và giảm nguy cơ nhồi máu, đột quỵ, nhóm nền tảng mà bác sĩ hay kê là nhóm thuốc statin. Nếu chưa đủ để giảm LDL, bác sĩ có thể kết hợp thêm thuốc nhóm ezetimibe. Nếu đã kết hợp rồi mà LDL vẫn chưa giảm tốt hoặc thuộc nhóm nguy cơ rất cao, bác sĩ có thể cân nhắc tới thuốc tiêm ức chế PCSK9.
Nếu không dung nạp được thuốc nhóm statin hoặc cần thuốc uống bổ sung, thì bác sĩ có thể cân nhắc bempedoic acid. Inclisiran cũng hạ LDL tốt và tiện vì tiêm ít lần, nhưng bằng chứng giảm biến cố vẫn đang tiếp tục được hoàn thiện.
Nếu mục tiêu chính là giảm triglyceride vì đang rất cao, đặc biệt để phòng viêm tụy cấp, bác sĩ sẽ nhấn mạnh ăn uống (giảm tinh bột nhanh, đồ ngọt, rượu bia, dầu mỡ) , tập luyện đều hàng ngày, kiểm soát đường huyết , giảm cân nếu thừa cân và có thể cho cô bác dùng nhóm thuốc fibrate hoặc thuốc icosapent ethyl tùy mức độ để giảm Triglyceride xuống.
Nếu cô bác anh chị chưa rõ khi nào mỡ máu cao bắt đầu trở nên đáng lo, có thể đọc thêm bài Dấu Hiệu Mỡ Máu Cao, Khi Nào Nguy Hiểm? để biết những trường hợp cần đi khám và theo dõi sớm.
https://duocsilan.com/dau-hieu-mo-mau-cao-2/
PHẦN 4: TỔNG KẾT 5 ĐIỀU CÔ BÁC CẦN NHỚ
Trước khi kết thúc, con xin tóm tắt 5 ý quan trọng nhất.
Điều 1: Mỡ máu có nhiều chỉ số. LDL-C cao chủ yếu liên quan xơ vữa mạch máu, nhồi máu cơ tim, đột quỵ. Triglyceride quá cao thì rất hay liên quan đến viêm tụy cấp.
Điều 2: Statin là nhóm thuốc nền tảng hay được bác sĩ kê để hạ mỡ xấu LDL-C và giảm nguy cơ biến cố tim mạch ở đúng đối tượng. Cô bác không nên tự ngưng statin chỉ vì sợ tác dụng phụ. Khi dùng theo dõi xem có hay đau mỏi cơ không, một số cô bác bị đau mỏi cơ do statin khi bổ sung thêm CoQ10 có thể thấy đỡ hơn tuỳ từng trường hợp, nếu sợ tăng men gan thì mỗi đợt đi kiểm tra hãy khám định kỳ các chỉ số men gan, trong thời gian uống duy trì thì có thể chú ý tới việc chăm sóc cho lá gan của mình là được vì ít khi chỉ số men gan tăng quá cao, thường một số cô bác chỉ tăng nhẹ.
Điều 3: Ezetimibe, PCSK9, bempedoic acid và inclisiran là các thuốc hỗ trợ hoặc thay thế trong một số tình huống, nhưng mỗi thuốc có ưu – nhược điểm riêng. Không phải thuốc mới hơn lúc nào cũng là tốt hơn cho tất cả mọi người.
Điều 4: Fibrate và omega-3 kê đơn dạng icosapent ethyl thường liên quan nhiều hơn đến giảm triglyceride để tránh dẫn tới viêm tuỵ cấp, không phải thuốc chuyên hạ mỡ xấu LDL cholesterol.
Điều 5: Thuốc mỡ máu sẽ hiệu quả nhất khi đi kèm lối sống: ăn uống hợp lý, vận động đều, bỏ thuốc lá, hạn chế rượu bia, kiểm soát huyết áp, đường huyết, cân nặng và ngủ đủ giấc nữa các cô bác nhé.
Cô bác nhớ: điều trị mỡ máu không phải là điều trị một con số trên giấy xét nghiệm. Điều trị mỡ máu là để bảo vệ mạch máu, bảo vệ trái tim, bảo vệ não bộ, để mình sống khỏe hơn, ít gặp biến cố hơn, ít phải cấp cứu hơn. Đây mới là cái chúng ta hướng đến!
PHẦN 5: GIẢI ĐÁP THẮC MẮC
Câu 1: Đang uống thuốc tiểu đường và mỡ máu, có gan nhiễm mỡ dùng được Omega-3 không?
—> Dùng được. Vì Omega-3 vừa hỗ trợ cho việc giảm mỡ máu và gan nhiễm mỡ , nó cũng hỗ trợ giảm viêm nên cũng tốt cho những người tiểu đường (vì người tiểu đường lượng đường trong máu cao rất dễ gây tổn thương viêm trong mạch máu). Tuy nhiên cần lưu ý là dùng đúng liều, nếu đang có thuốc kê đơn thì vẫn cần dùng thuốc đều không tự ý bỏ thuốc.
Câu 2: Uống omega 3 giảm mỡ màu rồi xong dừng lại thì có bị tăng mỡ máu trở lại không?
—> Có thể. Vì mỡ máu phụ thuộc cả vào ăn uống + lối sống. Omega-3 chỉ hỗ trợ kiểm soát mỡ máu tốt hơn chứ không thay thế một chế độ ăn và lối sống sai được. Nếu dừng omega 3 mà vẫn ăn uống kiêng khem tốt → giữ được ổn định. Nếu dừng và lại ăn uống thả ga, không kiểm soát → mỡ máu dễ tăng lại.
Câu 3: Omega-3 nhuyễn thể viên đỏ của Nhật mấy viên 1 ngày?
—> Tùy sản phẩm đang dùng hàm lượng bao nhiêu trong mỗi viên. Liều phổ biến: khoảng 2 -3 viên/ngày sau ăn. Hoặc tuỳ theo tình trạng, đặc biệt là nếu cô bác đang có huyết áp thấp hoặc đang dùng thuốc chống đông máu thì liều có thể sẽ cần điều chỉnh lại phù hợp hơn.
Câu 4: 66 tuổi ,chỉ số mỡ máu LDL là 3.8 có cao không?
—> Hơi cao vì bác trên 50 tuổi rồi thì tốt nhất là mỡ xấu LDL nên dưới 2,6 mmol/l sẽ là tối ưu nhất. Nếu có bệnh nền đi kèm như tiểu đường, tăng huyết áp hoặc nguy cơ tim mạch cao thì có thể là còn cần thấp hơn nữa thậm chí là < 1,8 hoặc dưới <1,4 tuỳ yếu tố nguy cơ đi kèm là gì.
❓…… Còn một số câu hỏi đáp khác các cô bác có thể xem thêm trong livestream chi tiết nhé!
Nếu còn thắc mắc nào về mỡ máu cao, chưa hiểu chỉ số, chưa biết cách kiểm soát tại nhà ra sao hoặc còn vấn đề nào về sức khoẻ cần tư vấn kỹ hơn thì cô bác có thể nhắn rõ tình trạng của cô bác qua Zalo con luôn sẵn sàng hỗ trợ cho các cô bác ạ!
Zalo Ds. Lan: 0981 741 388
Ngoài ra con đã dành nhiều tâm huyết tạo ra cuốn “Sổ tay mỡ máu”. Trong cuốn sổ tay này, Lan hướng dẫn cô bác rất tỉ mỉ, cặn kẽ về cách ăn uống đúng cách, tập luyện đều đặn để kiểm soát mỡ máu hiệu quả ngay tại nhà.
Cô bác anh chị nào muốn nhận sổ tay này thì có thể vào đây để tải về miễn phí ạ: https://www.duocsilan.vn/sotaymomau/?utm_source=blog




Tôi đã đọc hết bài. Rất sáng tủ và bổ ích. Xin cảm ơn Dược sĩ Lan.
Rất bổ ích
Cám ơn Dược sĩ về những thông tin cặn kẻ, bổ ích
dạ con cảm ơn bác ạ